29 Jul 2015

¡Que Viva Eisenstein! (2015)

Bộ phim thực ra là một mẩu chuyện nhỏ trong cuộc đời hoạt động của thiên tài điện ảnh Xô Viết: Sergueï Eisenstein. Tôi bỏ lỡ mất phim này hồi sang Berlin. (Nếu có thể nói vắn tắt về ba liên hoan phim lớn nhất châu Âu: Cannes đầy quằn quại, Venice đầy sắc màu, và Berlin đầy tranh cãi.) Cách đây năm năm, tôi xem một loạt phim của Eisenstein trong những ngày mưa rét mướt ở Melbourne, trong đó có bộ ba phim về chủ đề ‘Revolution’ : Đình công, Tàu chiến Potemkine và Tháng Mười (còn có tên khác là ‘Mười ngày làm rung chuyển thế giới'). Riêng hai tập phim về Ivan Bạo Chúa tôi ngủ hết nửa thời gian trong rạp. Đi xem phim đen trắng, và nhất là của các tác giả kinh điển, đỏi hòi sự luyện tập. Khi ấy tôi chưa hiểu lắm về Eisenstein, nhưng nhớ nhất là cảnh tay thuỷ thủ cầm một tảng thịt, trên đó đàn dòi bò lúc nhúc (trong Potemkine). Tôi từng nghĩ có lẽ đó là biểu tượng của một cách mạng.

14 Jun 2015

Tiểu vũ trụ trong Buddenbrook

Gia đình Buddenbrook (Hồng Dân Hoa và Trương Chính dịch, NXB Trẻ) của Thomas Mann là một tác phẩm đồ sộ, không chỉ vì dung lượng bao trùm sự suy tàn của một gia đình kinh doanh có truyền thống cả trăm năm, mà còn vì hàm lượng kịch tính và sức nén trong diễn tiến câu chuyện. Ta bắt gặp hàng trăm nhân vật, mỗi người mang một tính cách, diện mạo và sinh khí riêng; ta chứng kiến hầu như mỗi chương là một biến cố thăng trầm của dòng họ. Những sóng gió trong đời mỗi cá nhân thường chẳng tuân theo một mô-típ nào, nhưng Thomas Mann đã tạo ra một tiểu vũ trụ Buddenbrook xoay vần trong vũ trụ lớn của thời đại.

11 Jun 2015

Mỗi thứ quanh ta đều mang thơ tính

tôi ở trên một căn phòng, nó gần gần giống một phòng áp mái. bên hông nó là một bức tường nghiêng nghiêng và một cửa sổ có thể mở ra đón ánh nắng vào buổi sáng. đón những ánh nắng vào buổi sáng.

có lần tôi chợt hỏi, con người ta cần bao lâu để cảm một bài thơ. hồi bé, tôi đọc bài L'Albatros (Chim hải âu) của Charles Baudelaire, tôi nhớ có câu Là thi sĩ như chim trời ấy / Ưa bão dông, chẳng ngại cung tên / Đọa đầy giữa đám ghét ghen / Nặng đôi cánh rộng, không quen bước thường. bản dịch của Vũ Đình Liên. tôi không hiểu hết cả bài. nói chung, cái ấn tượng đầu tiên khi đọc thơ là sự cảm nhận về điệu. Là thi sĩ là như chim trời ấy.

cái tinh thần bôhemia của đám thi sĩ. ở trên gác mái, bú cà phê và thuốc lá và diệu. mở cái cửa sổ nghiêng nghiêng. nhìn ra một khung cảnh.

8 Jun 2015

Sự trù trừ hạnh phúc

Bảo tàng ngây thơ (Giáp Văn Chung dịch, NXB Văn Học), mở đầu bằng một hình ảnh đầy tính điện ảnh, một cảnh hồi tưởng được tác giả đặt tên là “khoảnh khắc hạnh phúc nhất của đời tôi”. Nhân vật chính Kemal và người tình Füsun yêu nhau trong một căn phòng ám bụi với mớ đồ đạc cũ, ngoài kia là bầu trời rực rỡ của mùa xuân Istanbul, họ tách mình vào một “thế giới được giải thoát khỏi các quy luật của trọng lực và thời gian”. Và trong một khoảnh khắc, Kemal khẽ cắn lên vành tai cô gái, làm “chiếc khuyên tai bật ra bay lên cao trong một giây, rồi từ từ rơi xuống”. Đó phải chăng là dấu hiệu chậm rãi của sự giải thoát, hay là tính chông chênh của nỗi sợ mất đi hạnh phúc? Những cảm xúc đầy tương phản, giữa niềm sung sướng được đi đến tận cùng và xung đột lẩn khuất đến từ các mảnh ghép của ký ức, của kỷ niệm, ấy là phong vị xuyên suốt cuốn tiểu thuyết của Orhan Pamuk.

5 Jun 2015

Mảnh ghép và toàn thể

Với những ai đã đọc cuốn tiểu thuyết đầy mộng mị Những đứa con của nửa đêm (Nham Hoa dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học), Saleem Sinai là một cậu bé ảo tưởng về sức mạnh: có quyền năng trong tay, nhưng cậu luôn mất tự chủ một cách khinh suất. Nhưng bằng trí tưởng tượng với biên độ dao động phi thường của Salman Rushdie, cậu trở thành hiện thân của một huyền thoại Ấn Độ thời kỳ mông muội, bạo loạn, được chắp ghép bằng những lát cắt quái gở và ẩm ương.

Saleem Sinai, nhân vật chính và một người kể chuyện lơ đãng, ra đời vào thời điểm Ấn Độ trở thành quốc gia độc lập, bởi thế cậu có tuổi đúng bằng tuổi đời của đất nước mình. Câu chuyện của Sinai được kết nối với số phận của tiểu lục địa này, và bản thân cậu cũng ý thức được cái cùm tay bí ẩn gắn chặt mình vào lịch sử của đất nước mới: “tôi đã là, trong thời của tôi, bằng chứng sống cho bản chất hoang đường của giấc mơ tập thể này” (tr. 150).

31 May 2015

Khi hài hước là một trò chơi

Một đặc tính của tác phẩm văn học gây chia rẽ giới độc giả nhiều nhất và thường xuyên nhất, ấy là tính hài hước. Thật khó để đồng tình với nhau về cách nhìn nhận một tác phẩm mà ở đó tính hài hước là một thứ vi tế, phảng phất, chỉ xuất hiện chòng ghẹo chừng nào người đọc vô tình thấy mình bối rối, xấu hổ, hoặc dâng lên lòng đố kỵ ở ngay địa vị nhân vật.

Ta đã biết Lolita là một dạng “đàn bà yêu mị”, femme fatale, một phụ nữ khiến đàn ông cuồng si và đánh đổi mọi thứ mình có để đón nhận kết cục sa ngã đã được báo trước. Thế nhưng, mỗi bên đều tìm thấy lý do để mãn nguyện và tự tưởng thưởng bằng việc nuông chiều mình trong một hồi chung kết không mấy êm ái. Một thế “win-win” nhất thời cho cả hai chưa hẳn đã là bi kịch. Có một khía cạnh nào đó đôn hậu, cứu rỗi, một niềm an ủi của bi kịch, nếu như sự hài hước chỉ là một trò chơi. Ta gặp lại đề tài này trong “tiền thân” của Lolita, một tiểu thuyết ngắn ra đời trước đó 23 năm có tên Tiếng cười trong bóng tối (Nhã Nam & NXB Văn Học, Đặng Xuân Thảo dịch). Tác phẩm được viết và ấn hành lần đầu bằng tiếng Nga khi Nabokov sống lưu vong ở Berlin thời cộng hòa Weimar (nước Đức 1919-1933); sáu năm sau ông tự dịch và cho ra đời bản tiếng Anh.

28 May 2015

Churchill 28.5.1940

Dạo này tôi kể chuyện oánh nhao hơi nhiều, song ngày 28 tháng Năm là một dấu mốc mang tính bước ngoặt của Thế chiến thứ hai, và năm nay cũng là một năm chẵn: 28.5.1940. Ngày này gắn với một chính khách của nước Anh, một nhà hùng biện và nhà sử học (từng đoạt giải Nobel văn chương năm 1953) Winston Churchill.

Liên Xô, như ta đã biết, ký hiệp ước bất tương xâm với Đức, trong đó có việc phân chia Ba Lan, vào tháng 8.1939. Thật ra mối quan hệ của Stalin với Nazi vào thời điểm này dựa trên một giả định, và kỳ vọng, rằng giả sử Đức tìm cách oánh Pháp thì cũng không thể thôn tính một sớm một chiều và Hitler sẽ còn bận tâm nhiều ở mặt trận phía tây trước khi chuyển hướng chú ý sang phía đông, cụ thể là Liên bang Xô Viết. Nhưng Stalin đã oánh giá thấp thực lực của Nazi hehe.