28 May 2015

Churchill 28.5.1940

Dạo này tôi kể chuyện oánh nhao hơi nhiều, song ngày 28 tháng Năm là một dấu mốc mang tính bước ngoặt của Thế chiến thứ hai, và năm nay cũng là một năm chẵn: 28.5.1940. Ngày này gắn với một chính khách của nước Anh, một nhà hùng biện và nhà sử học (từng đoạt giải Nobel văn chương năm 1953) Winston Churchill.

Liên Xô, như ta đã biết, ký hiệp ước bất tương xâm với Đức, trong đó có việc phân chia Ba Lan, vào tháng 8.1939. Thật ra mối quan hệ của Stalin với Nazi vào thời điểm này dựa trên một giả định, và kỳ vọng, rằng giả sử Đức tìm cách oánh Pháp thì cũng không thể thôn tính một sớm một chiều và Hitler sẽ còn bận tâm nhiều ở mặt trận phía tây trước khi chuyển hướng chú ý sang phía đông, cụ thể là Liên bang Xô Viết. Nhưng Stalin đã oánh giá thấp thực lực của Nazi hehe.

27 May 2015

Lịch sử là tiếng thở dài

Quá khứ và hiện tại, điều gì là đáng bận tâm? Câu hỏi ấy trở đi trở lại đầy ám ảnh trong cuốn tiểu thuyết có nhan đề xấc xược của J.M. Coetzee, Đợi bọn mọi (Bách Việt & NXB Văn Học, Crimson Mai & Phương Văn dịch). Ta thấy ở đó cuộc đấu tranh dai dẳng giữa hai luồng suy nghĩ, ở phông nền là sự uể oải, dửng dưng đến vô tội của một thị trấn ba nghìn dân nằm bên rìa dòng chảy lịch sử nhưng chứng kiến không ít sự xúc xiểm, mỉa mai đối với chính lịch sử ấy.

Nhân vật chính, vị Quan tòa, vốn là công chức phụng sự cho chính phủ ở một thị trấn tiền đồn xa xôi của “Đế chế”, chờ đến ngày về hưu. Đối lập với ông về tính cách là Đại tá Joll, được chính phủ cử đến để quét sạch bọn mọi, một đám người không ai biết là ai, chỉ biết chúng chuyên “lẻn đến từ đằng sau và thọc một dao vào lưng bạn”. Nếu như Đại tá cho rằng con người mới của Đế chế phải tin tưởng vào sự khởi đầu tươi mới và một trang sử sạch sẽ, thì ngài Quan tòa lại vật lộn với câu chuyện của quá khứ vì ông cho rằng quá khứ ấy là đáng bận tâm. Vấn đề là sự lưu tâm ấy đáng được ông đánh đổi đến mức nào?

25 May 2015

Si mê sự vô định

Một người có thể có bao nhiêu quá khứ? Và nếu nhiều hơn một thì quá khứ nào là cốt yếu? Một câu hỏi tưởng chừng đuểnh đoảng và vô hại nhưng đã được Patrick Modiano trở đi trở lại trong Phố những cửa hiệu u tối (Dương Tường dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học). Cũng như các tác phẩm khác làm nên dấu ấn của Modiano, cuốn tiểu thuyết mỏng lôi cuốn người đọc bằng giọng văn lãnh đạm, dửng dưng nhưng đồng thời đay nghiến, giày vò và với một kết thúc vắng câu trả lời. Nhà văn mở ra đề tài “đi tìm thân thế” (bản dịch tiếng Anh của tác phẩm có tên Missing Person – Người thất lạc) bằng một dạng nhân vật chính không thể quen thuộc hơn: một thám tử mất trí nhớ, tìm lại cuộc đời bị ngắt quãng mười lăm năm trước.

22 May 2015

Holocaust và người Do Thái (4)

Hình dưới là mặt tiền một hội đường bỏ hoang ở Dąbrowa Tarnowska [1]. Khối kiến trúc xuất hiện từ thế kỷ 19, nằm trên trục đường chính và cách trung tâm thị trấn không quá một trăm mét, minh họa cho tầm vóc, căn cước và sự hiện diện một thời hưng thịnh của người Do Thái ở Galicia. Giờ đây, ta chỉ còn thấy những tòa nhà bỏ hoang, mặt tiền nham nhở trầy trật vữa, bao quanh là hàng rào tôn, những lưới mắt cáo, cây bờ cỏ bụi. Chúng chìm trong sự lãng quên. Ở bất cứ đâu, những hình ảnh như thế này không quá xa lạ. Bỏ qua kiến trúc, ta có thể hình dung ra khung cảnh này ngay ở Việt Nam; bên trái có cột đèn đường, bên phải có mấy căn nhà cấp bốn, ngoài khung hình có thể có mấy con chó chạy rong cạnh một bãi ve chai lộ thiên.

12 May 2015

Holocaust và người Do Thái (3)

Phần Hai: Di sản trong đổ nát


Những phân mảnh của đống đổ nát đánh dấu sự hiện hữu của một thế giới đã không còn hiện diện. Nhìn vào đống đổ nát của một nền văn minh bị hủy hoại, người ta thường sẽ nghĩ về những gì đã có thể xảy ra, hay những nơi đó hẳn trông như thế nào vào thời hưng thịnh. Đáp lại lời chất vấn đó là cảm giác bi ai sâu thẳm về cách một sự mất mát có thể to lớn nhường nào. Những nghĩa trang bị bỏ hoang, trống trải; các bia mộ bị xới lên, đập bỏ, hoặc lát nền làm lối đi; những nơi ấy, một số giờ đây giờ dùng làm công viên, làm bãi đạp xe hoặc dành cho người đi bộ. Hội đường vốn là nơi thờ phụng, học tập và tụ họp của người Do Thái, nơi họ nghe đọc những bản văn từ kinh Torah, nơi chứng kiến các đám cưới, đám rước; những nơi ấy, một số bị tốc mái, nội thất biến dạng, các câu khắc tiếng Hebrew hay Yiddish bị lu mờ. Một chỗ dành cho người sống, một chỗ dành cho người mất, nhưng đều có điểm chung là ở trong tình trạng bị bỏ rơi. Nó phản ánh cái hiện thực thời hiện tại là sự hoang tàn, là bầu im lặng. Sự im lặngmang đến tính trang nghiêm, nhưng bỏ rơi trong im lặng mang lại tính tầm thường – tính tầm thường của đổ nát của hậu-Holocaust.

8 May 2015

Holocaust và người Do Thái (2)

Phần Một: Người Do Thái ở Ba Lan

Trong vòng ba trăm năm, cho đến trước biến cố Shoah ở thế kỷ 20, Ba Lan được xem là một trung tâm quan trọng của cộng đồng Do Thái phân tán (diaspora), là nơi cư ngụ đông người Do Thái nhất thế giới. Cho đến giữa thế kỷ 19, trước những làn sóng di cư sang Mỹ, khoảng 90 phần trăm người Do Thái sống ở châu Âu, phần đông ở lãnh thổ Ba Lan ngày nay. Giữa hai cuộc thế chiến, cộng đồng này ở Ba Lan có hơn ba triệu người, là sắc tộc thiểu số lớn thứ nhì nước này sau người Ukraine. Song, trong Thế chiến thứ hai, cộng đồng Do Thái ở đây bị hủy diệt gần như hoàn toàn, gần 90 phần trăm buộc phải ra đi hoặc bị sát hại. Sau chiến tranh (1945-1948), số người sống sót cũng dần đi sang Mỹ hoặc Israel. Đáng kể là năm 1968, sau cuộc chiến Sáu Ngày Israel - Ả Rập, dưới ảnh hưởng của Liên Xô, Ba Lan tung ra chiến dịch chống chủ nghĩa Zion khiến người Do Thái ra đi ồ ạt. Ngày nay, người Do Thái ở Ba Lan chỉ còn khoảng 30.000 người [trong khi số người Việt ở Warsaw đã là hơn 50.000]. Các hội đường Do Thái (synagogue) bị bỏ hoang hoặc dùng cho mục đích khác, chẳng hạn thư viện công; các nghĩa trang Do Thái hoang vu, tiêu điều; các tòa nhà tàn tạ trong cộng đồng Do Thái xưa kia được dùng làm chung cư hoặc cư xá sinh viên.

7 May 2015

Holocaust và người Do Thái (1)

Vài lời giới thiệu

Tháng Năm năm nay kỷ niệm bảy mươi năm Thế chiến thứ hai kết thúc, đánh dấu bằng ngày 8.5 quân phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện trên các mặt trận. Nếu như Thế chiến thứ nhất từng làm cả châu Âu sững sờ vì chưa bao giờ họ nghĩ mình sẽ nhúng sâu vào một cuộc chiến thê lương như thế, số thương vong nhiều như thế, hậu quả để lại cho các bên tham gia tàn khốc như thế (chưa kể, làm tan rã các đế chế oai hùng một thời: Áo-Hung, Nga, Đức và Ottoman), thì Thế chiến thứ hai, lần này, làm cả thế giới bàng hoàng không chỉ vì mức độ tàn phá về mặt vật chất mà cả khía cạnh đạo đức. Những cuộc vây hãm thành phố mấy triệu dân cho đến kiệt quệ (như Stalingrad); những vụ san bằng cả một thành phố thành bình địa - bằng ném bom (như Dresden) hay bằng bom và mìn (như Warsaw); sự xuất hiện của bom nguyên tử… Nhưng day dứt hơn cả, khó chữa lành hơn cả, là những đứt gãy về mặt đạo đức. Cuộc thế chiến trở thành sân khấu để các đồ tể áp đặt tham vọng không tưởng của mình - với Hitler là thanh lọc chủng tộc để người Aryan thượng đẳng thống lĩnh châu Âu, và với Stalin là diệt trừ sắc tộc thiểu số ở nội trong liên bang Xô Viết, một thực hành về “ethnic cleansing”. Nạn nhân phần lớn của Hitler là người Do Thái ở châu Âu, của Stalin là các sắc dân ở Ba Lan, Ukraine, Belarus và các quốc gia Baltic. Chúng ta có các trại tập trung (như Auschwitz, Bełżec, Treblinka) và Gulag (mà nhà văn Liên Xô Solzhenitsyn gọi là "quần đảo ngục tù"), và có thuật ngữ ‘Shoah’ để chỉ cuộc diệt chủng người Do Thái của phát xít Đức (được phơi bày phần nào trong bộ phim tài liệu cùng tên của Claude Lanzmann), và ‘Holocaust’ aka Lò Thiêu để chỉ rộng hơn việc giết người có hệ thống bằng trại tập trung và phòng hơi ngạt (gas chamber), không chỉ là người Do Thái.